Nguồn: VNDS. Loại báo cáo: Phân tích Ngành. Nội dung tóm tắt: Chúng tôi kỳ vọng rằng giá gạo có khả năng tăng do chịu áp lực nguồn cung bị hạn chế và các chính sách xuất khẩu mới của Ấn Độ. Việt Nam có vị thế tốt để đón đầu xu hướng tăng giá của gạo. LTG, PAN
Các mục tiêu chính của đề tài bao gồm: (i) Nghiên cứu cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về ổn định tài chính trên TTCK nói riêng; (ii) Đánh giá thực trạng công tác ổn định tài chính trên TTCK Việt Nam, đặc biệt những kết quả đã đạt được và những hạn chế
VỀ BIẾN ĐỘNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG .6 2.1 Tổng quan hiệu hoạt động ngân hàng 2.2 Các tiêu đo lường hiệu hoạt động ngân hàng 2.3 Biến động thị trường. .. luận biến động thị trường chứng khoán hiệu hoạt động ngân hàng Trong
100 Tài liệu không tính tiền tự học triệu chứng khoán cho người mới bắt đầu. Về tài liệu hội chứng khoán, nó khôn xiết đa dạng, từ phần đông cuốn sách cho tất cả những người mới ban đầu cho tới các cuốn sách kinh doanh chứng khoán kinh điển, thông thường có tại thư viện, các nhà sách, các tiệm sách
Download tài liệu document Nghiên cứu về các loại chỉ số chứng khoán. tìm hiểu công thức tính và cách thức điều chỉnh chỉ số của hai chỉ số cơ bản của thế giới hiện nay chỉ số công nghiệp down john và chỉ số tổng hợp nasdaq miễn phí tại Xemtailieu
. nghiên cứu thị trường của Hanoimilk vào tháng 6/2012). Đi cụ thể vào từng phânkhúc thị trường hiện Vinamilk đang đến chiếm 80% thị phần sữa đặc; 90% thị. "[ 8J d , a 6 Thị trường hoàn hảo: Thị trường có nhiều nhà đầu tư, có thông tin như
kJRj. ArticlePDF AvailableAbstractThông qua phương pháp đo lường biến động suất sinh lợi trên hai Sàn giao dịch chứng khoán niêm yết HoSE và Hà Nội HNX, bài viết này nghiên cứu sự tồn tại của hành vi bầy đàn của nhà đầu tư trên Thị trường chứng khoán Việt Nam từ 01/06/2007 đến 30/11/2015. Kết quả thực nghiệm cho thấy có sự tồn tại hành vi bầy đàn trên cả hai Sàn HoSE và HNX. Ngoài ra, các kết quả phân tích hồi quy còn chỉ ra rằng trong xu hướng thị trường giảm điểm, hành vi bầy đàn được biểu hiện với mức độ mạnh hơn so với lúc thị trường tăng điểm. Các cơ sở khoa học quan trọng này đã giúp tác giả đưa ra một số giải pháp mang tính định hướng nhằm làm giảm tác động của hành vi bầy đàn và góp phần làm gia tăng tính hiệu quả của thị trường chứng khoán. Discover the world's research25+ million members160+ million publication billion citationsJoin for freeContent may be subject to copyright. 96 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT Tập 7, Số 1, 2017 96–108 NGHIÊN CỨU “HÀNH VI BẦY ĐÀN” TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM Đoàn Anh Tuấna, Hoàng Mai Phươnga aKhoa Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Đà Lạt, Lâm Đồng, Việt Nam Lịch sử bài báo Nhận ngày 14 tháng 04 năm 2016 Chỉnh sửa ngày 11 tháng 08 năm 2016 Chấp nhận đăng ngày 10 tháng 10 năm 2016 Tóm tắt Thông qua phương pháp đo lường biến động suất sinh lợi trên hai Sàn giao dịch chứng khoán niêm yết HoSE và Hà Nội HNX, bài viết này nghiên cứu sự tồn tại của hành vi bầy đàn của nhà đầu tư trên Thị trường chứng khoán Việt Nam từ 01/06/2007 đến 30/11/2015. Kết quả thực nghiệm cho thấy có sự tồn tại hành vi bầy đàn trên cả hai Sàn HoSE và HNX. Ngoài ra, các kết quả phân tích hồi quy còn chỉ ra rằng trong xu hướng thị trường giảm điểm, hành vi bầy đàn được biểu hiện với mức độ mạnh hơn so với lúc thị trường tăng điểm. Các cơ sở khoa học quan trọng này đã giúp tác giả đưa ra một số giải pháp mang tính định hướng nhằm làm giảm tác động của hành vi bầy đàn và góp phần làm gia tăng tính hiệu quả của thị trường chứng khoán. Từ khóa CSAD; GARCH; Hành vi bầy đàn; Thị trường chứng khoán Việt Nam. 1. VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT “Hành vi bầy đàn” hay còn gọi là “Hiệu ứng đám đông” là một hiện tượng tâm lý khá phổ biến trong đời sống kinh tế xã hội. Những người bị hiệu ứng đám đông chi phối thường hành động theo những gì mà người khác đang làm ngay cả khi thông tin riêng của họ cho thấy nên hành động theo một cách khác Banerjee, 1992. Đây cũng chính là cách hành xử phổ biến của các nhà đầu tư trên thị trường tài chính. Trên thực tế, không chỉ có quyết định của các nhà đầu tư nhỏ lẻ bị ảnh hưởng và chi phối bởi động thái của nhà đầu tư khác mà ngay cả các nhà đầu tư tổ chức cũng không nằm ngoài vòng xoay này. Các nhà đầu tư nhỏ lẻ dễ dàng bị cuốn vào các “trò chơi tạo xu thế” hay các trò “làm giá” do những giới hạn trong việc sở hữu thông tin hay cố tình bỏ qua thông tin riêng mà thiên về kết quả quan sát hành động của các nhà đầu tư khác. Ngay cả, các tổ chức đầu tư được dẫn dắt và quản lý bởi những cá nhân mà kết quả hoạt động của họ luôn được đánh giá Tác giả liên hệ Email tuanda Đoàn Anh Tuấn và Hoàng Mai Phương 97 thông qua việc so sánh với những người có vị trí và trình độ tương tự hoặc cao hơn, cũng lựa chọn hành động theo đám đông nhằm cải thiện hình ảnh nghề nghiệp hoặc đạt được lợi ích lớn hơn so với khi thực hiện hành động một cách riêng lẻ. Những nghiên cứu gần đây cho thấy các hiện tượng bất thường của giá chứng khoán xuất phát từ sự bất cân xứng thông tin trên thị trường giữa những nhà đầu tư cá nhân và những nhà đầu tư tổ chức ngày càng gia tăng Đoàn, 2010. Đó là tình trạng một hoặc một nhóm các nhà đầu tư sở hữu được thông tin riêng so với phần còn lại của thị trường, hoặc có nhiều thông tin đại chúng hơn về một công ty nào đó Kim & Verrecchia, 1997. Điều này khiến cho hàng loạt cổ phiếu được mua bán theo xu hướng khiến giá của chúng được thổi phồng quá mức hoặc sụt giảm hơn một nửa giá trị chỉ trong một vài ngày khiến thị trường hoạt động kém hiệu quả, trong nhiều trường hợp dẫn đến mất ổn định thị trường. Đây là hiện tượng chung trên các thị trường mới nổi do tâm lý của các nhà đầu tư chưa thực sự vững vàng và dễ bị tác động bởi những yếu tố xu hướng bên ngoài. Mô hình lý thuyết về tâm lý bầy đàn đã được phát triển bởi nhiều tác giả như Bikhchandani và ctg. 1992; Scharfstein và Stein 1990; hay Devenow và Welch 1996. Riêng nghiên cứu thực nghiệm tập trung chủ yếu vào kiểm định sự tồn tại của tâm lý bầy đàn, trong đó đáng chú ý là công trình nghiên cứu của các nhà quản lý quỹ Lakonishok và ctg. 1992; Wermers 1999; và các nhà phân tích tài chính Trueman 1994; Hong và ctg. 2000; Gleason và Lee 2003; và Clement và Tse 2005. Nổi bật trong các phương pháp định lượng tâm lý bầy đàn phải kể đến hai nghiên cứu của Christie và Huang 1995 gọi tắt phương pháp này là CH và của Chang và ctg. 2000 gọi tắt là CCK. Liên quan đến hành vi bầy đàn tại Thị trường chứng khoán Việt Nam, có các nghiên cứu được đánh giá cao như công trình nghiên cứu của tác giả Trần 2010, Hồ 2007 hay của tác giả Lê 2007. Nhìn chung, các kết quả đạt được từ các công trình trên đều công nhận hành vi bầy đàn có tồn tại trên Thị trường chứng khoán Việt Nam. Tuy nhiên, do sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau, cũng như sử dụng dữ liệu ở những khoảng thời điểm khác nhau nên kết quả đo lường mức độ tác động của hành vi bầy đàn giữa các tác giả còn chưa được thống nhất. 98 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ] 2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Bài viết này nghiên cứu sự tồn tại của hành vi bầy đàn của các nhà đầu tư trên Thị trường chứng khoán Việt Nam, thông qua phương pháp đo lường biến động suất sinh lợi trên thị trường chứng khoán. Cụ thể, tác giả tập trung phân tích và kiểm định sự tồn tại tâm lý bầy đàn của nhà đầu tư trên hai Sàn giao dịch chứng khoán niêm yết HoSE và Hà Nội HNX, đồng thời đi sâu phân tích hiện tượng bất cân xứng của hành vi bầy đàn xảy ra trong hai xu hướng thị trường tăng và giảm điểm. Vì thông tin tốt thường tạo ra sự tăng giá cổ phiếu và ngay sau đó giá của cổ phiếu nhỏ đã thể hiện hết thông tin tốt trong đó. Điều này có thể làm tăng thêm sự phân tán của lợi nhuận thị trường trong trường hợp thị trường đi lên mà không thể xảy ra khi thị trường đi xuống. Do đó, sự phân tán này thường được dùng làm cơ sở để giải thích vì sao hành vi bầy đàn diễn ra mạnh mẽ đối với thị trường giảm điểm mà đặc biệt là đối với cổ phiếu nhỏ. Nội dung nghiên cứu này đóng góp những cơ sở khoa học quan trọng không chỉ đối với các nhà đầu tư, nhà tạo lập thị trường mà còn rất hữu ích đối với các nhà quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng khoán, bởi hiện tượng tâm lý đám đông trong đầu tư chứng khoán tác động lớn đến lợi nhuận của các nhà đầu tư và sự phát triển bền vững của Thị trường chứng khoán Việt Nam. 3. DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH Nguồn dữ liệu Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng hệ thống dữ liệu về giá chứng khoán được cập nhật theo ngày daily để tính lợi nhuận biến động giá cũng như kiểm định các chỉ tiêu khác về hiện tượng tâm lý bầy đàn. Nguồn dữ liệu giá chứng khoán được cung cấp bởi Sở Giao dịch chứng khoán TP. HCM và Sở Giao dịch chứng khoán TP. Hà Nội. Nguồn dữ liệu về giá chứng khoán được cung cấp bởi Sở giao dịch chứng khoán Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và các chỉ số đặc trưng của từng loại chứng khoán được cung cấp bởi Công ty chứng khoán Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam Dữ liệu được thu thập từ ngày 01 tháng 6 năm 2007 đến ngày 30 tháng 11 năm 2015 bao gồm 70 công ty có điều kiện dữ liệu liên tục Đoàn Anh Tuấn và Hoàng Mai Phương 99 trên hai sàn chứng khoán 40 công ty tại HoSE và 30 công ty tại HNX tương ứng với hơn 2116 quan sát. Phương pháp phân tích Để xác định sự tồn tại của hành vi bầy đàn, tác giả kết hợp hai phương pháp định lượng nổi bật của tác giả Christie và Huang 1995 gọi tắt phương pháp này là CH và của Chang và ctg. 2000 gọi tắt là CCK. Bắt đầu từ các luận giải cho rằng một quyết định mua hay bán của các nhà đầu tư phụ thuộc vào tổng các điều kiện của thị trường. Trong điều kiện bình thường, mô hình định giá tài sản dự đoán tần suất lợi nhuận sẽ tăng lên với trị tuyệt đối của lợi nhuận thị trường, bởi lẽ nhà đầu tư cá nhân đang giao dịch dựa trên những thông tin được phân tích bởi chính họ. Tuy nhiên, vào thời điểm thị trường biến động mạnh, nhận định của nhà đầu tư cá nhân phần lớn bị mất phương hướng và quyết định đầu tư của họ phần lớn phụ thuộc vào những hành động của số đông trên thị trường. Vì thế Christie và Huang 1995 cho rằng tâm lý bầy đàn sẽ chỉ rõ ràng vào thời điểm mà thị trường có những biến động mạnh với lợi nhuận đột biến xảy ra ở danh mục thị trường. Sau đó, tác giả kế thừa mô hình của Chang và ctg. 2000 nhằm đo lường và kiểm định hiện tượng tâm lý bầy đàn với mức độ phân phối của lợi nhuận thị trường như trong công thức 1. CSADt = 1 Trong đó CSADt là trị tuyệt đối của độ lệch lợi nhuận ở thời điểm t Cross-Sectional Absolute Deviation, chỉ tiêu này đo lường sự phân tán của lợi nhuận. Cụ thể được tính qua công thức 2. CSADt = 2 Với Ri,t = logpt - log pt-1, là lợi nhuận biến động giá của cổ phiếu công ty i tại thời điểm t; Rm,t là bình quân lợi nhuận biến động giá của N công ty trong danh mục tại thời điểm t. Theo ý nghĩa kinh tế của phương trình 1, mối quan hệ tuyến tính giữa mức độ phân tán giữa lợi nhuận từng cổ phiếu riêng lẻ và lợi nhuận thị trường được xem là mô hình định giá tài sản. Theo đó, một sự tăng lên trên giá trị tuyệt đối của lợi nhuận thị 100 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ] trường sẽ dẫn đến kết quả tăng độ phân tán lợi nhuận của các cổ phiếu riêng lẻ. Vì thế, một hệ số dương và có ý nghĩa thống kê sẽ là một tham số dự báo không thể thiếu đối với mô hình định giá tài sản. Trong mô hình CCK, khi giá trị tuyệt đối của lợi nhuận trong phương trình 2 tăng lên, đồng nghĩa với việc có hiện tượng phân tán lợi nhuận của các nhà đầu tư. Vào thời điểm thị trường bị biến động giá mạnh, phản ứng của nhà đầu tư trên mức bình thường dẫn tới hiện tượng tâm lý bầy đàn. Hiện tượng tâm lý này làm tăng mối tương quan giữa những kênh tạo ra lợi nhuận cho các nhà đầu tư và góp phần làm giảm khả năng tạo lợi nhuận đối với nhân tố lợi nhuận thị trường Rm. Cũng vì lý do này mà mô hình có bao gồm nhân tố tạo nên đường cong phi tuyến tính và khi nghiên cứu thực nghiệm nếu kết quả hệ số là âm thì đồng nghĩa rằng có tồn tại hiện tượng tâm lý bầy đàn trên thị trường chứng khoán. Trong trường hợp này, nhà đầu tư bị thiêng về hành động giống nhau theo xu hướng thị trường và đánh mất sự nhận định của chính mình mỗi khi thị trường có sự biến động lớn. Phương pháp CH được sử dụng để tính CSADt mà theo đó không đòi hỏi phải ước lượng hệ số beta. Dễ thấy rằng, đối với phương pháp CCK, việc tính CSADt được dựa vào mô hình định giá tài sản CAPM trong khi hệ số beta β của mô hình này còn gặp nhiều tranh cãi. Hơn nữa, phương pháp CCK giả định rằng rủi ro không thay đổi theo thời gian và đo lường rủi ro phải được đặt trong một khoảng thời gian cụ thể, trên thực tế rủi ro thường hay thay đổi theo thời gian. Để kiểm tra sự ảnh hưởng của hiện tượng bất cân xứng thông tin, tác giả đã sử dụng các phương trình 3 và 4 3 4 Trong đó là bình quân lợi nhuận biến động giá của N công ty trong danh mục tại thời điểm t trong trường hợp thị trường tăng giá; là CSADt ở thời điểm t trong trường hợp thị trường tăng giá tương ứng với . Tương tự vậy, ký hiệu Đoàn Anh Tuấn và Hoàng Mai Phương 101 “DOWN” diễn tả các tham số đối với thị trường giảm giá. Đồng thời các giá trị tuyệt đối của và được dùng làm cơ sở so sánh hệ số tuyến tính của phương trình 3 và 4. Trong quá trình nghiên cứu sự tác động âm và dương của lợi nhuận thị trường bình quân, Rm,t , đến sự phân tán lợi nhuận thị trường sẽ được kiểm định một cách riêng lẻ. Những mô hình này cho phép xem xét hành vi bầy đàn trong điều kiện xu hướng thị trường là tăng hay giảm. Thị trường được xem là tăng điểm khi mà lợi nhuận bình quân bằng trọng số lớn hơn không, ngược lại sẽ là thị trường giảm điểm. 4. KẾT QUẢ PHÂN TÍCH Phân tích thống kê mô tả Bảng 1 và Bảng 2 mô tả các kết quả thống kê đối với lợi nhuận thị trường hàng ngày và bình quân mức phân tán của lợi nhuận cùng với các độ lệch chuẩn liên quan cho mỗi sàn giao dịch chứng khoán. Bảng kê mô tả của lợi nhuận thị trường hàng ngày và trị tuyệt đối của độ phân tán lợi nhuận CSAD từ 1/6/2007 đến 30/11/2015 tại HoSE Ghi chú *** , **, * Có ý nghĩa thống kê lần lượt ở các mức sai số 1%, 5% và 10%. aLợi nhuận thị trường tại thời điểm t khi thị trường tăng điểm . %. bLợi nhuận thị trường tại thời điểm t khi thị trường giảm điểm . cCSAD tại thời điểm t khi . dCSAD tại thời điểm t khi Ngoài ra, các bảng trên cũng thể hiện kết quả thống kê tóm tắt được phân loại khi thị trường tăng và giảm điểm cho hai sàn chứng khoán. Lợi nhuận bình quân của thị 102 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ] Trường chứng khoán Việt Nam HoSE trong giai đoạn nghiên cứu đạt âm trong khi tại sàn Hà nội HNX chỉ tiêu này là âm Chỉ tiêu này nếu được tính riêng cho thị trường tăng điểm, tại sàn HoSE đạt và HNX đạt còn đối với Thị trường giảm điểm kết quả này tại hai sàn tương ứng là âm và âm Khi thị trường được chia ra hai phần tăng điểm và giảm điểm, tổng số quan sát cho mỗi phần tương ứng là 1036 và 1080 HoSE và 955 và 1161 HNX. Bảng kê mô tả của lợi nhuận thị trường hàng ngày và trị tuyệt đối của độ phân tán lợi nhuận CSAD từ 1/6/2007 đến 30/11/2015 tại HNX Ghi chú *** , **, * Có ý nghĩa thống kê lần lượt ở các mức sai số 1%, 5% và 10%. aLợi nhuận thị trường tại thời điểm t khi thị trường tăng điểm . %. bLợi nhuận thị trường tại thời điểm t khi thị trường giảm điểm . cCSAD tại thời điểm t khi . dCSAD tại thời điểm t khi Thị trường chứng khoán Việt Nam cũng chỉ ra một mức biến động cao với độ lệch chuẩn của lợi nhuận tại sàn HoSE là /ngày và tại HNX là Nếu xét biến động riêng cho từng phần tăng và giảm điểm, sàn HoSE đạt tương ứng là và trong khi đó sàn HNX đạt ở mức cao hơn và Lợi nhuận lớn nhất tại hai sàn lần lượt là và trong khi lợi nhuận nhỏ nhất tại hai sàn là âm và âm Mức phân tán trung bình của lợi nhuận của toàn bộ thị trường là ngày tại sàn HoSE và tại sàn HNX, với sai số chuẩn lần lượt là và Với kết quả ban đầu của CSAD-UP và CSAD-DOWN cho thấy trong thị trường tăng điểm mức độ phân tán của lợi nhuận thị trường cao hơn so với thị trường giảm điểm Đoàn Anh Tuấn và Hoàng Mai Phương 103 Con số này cũng nhất quán với kết thống kê tại sàn HNX khi CSAD-UP là và CSAD-DOWN là Đây cũng là bằng chứng ban đầu chứng tỏ các nhà đầu tư thường gặp phải vấn đề tâm lý “ngại rủi ro”. Theo lý thuyết hành vi này, so với những gì đạt được trong thị trường tăng điểm, nhà đầu tư thường lo lắng ở mức độ lớn hơn khi đối mặt những rủi ro tiềm tàng trong thị trường giảm điểm. Chính điều này thường dẫn đến kết quả hành vi bầy đàn tại thị trường giảm điểm là lớn hơn so với thị trường tăng điểm độ phân tán lợi nhuận trong thị trường giảm điểm thường nhỏ hơn. Vấn đề này cũng sẽ được phân tích và kiểm định chi tiết trong phần tiếp theo của bài viết này. Dựa vào kết quả p-value của phương pháp kiểm định Jarque-Bera, ngoại trừ lợi nhuận thị trường sàn HoSE, phân phối phần dư của lợi nhuận thị trường của HNX và độ phân tán của hai sàn giao dịch không phải là phân phối chuẩn. Các giá trị về độ nghiêng và độ nhọn của các biến dữ liệu cho thấy dãy phân phối của các biến này có đặc điểm của độ nhọn vượt chuẩn leptokurtosis. Điều này giải thích rằng các thủ tục kiểm định sau này bằng phương pháp OLS phải được quan tâm kỹ lưỡng đến các giả định về phân phối chuẩn. Về sự tồn tại của hành vi bầy đàn Phần mục này trình bày các kết quả liên quan được ước lượng bằng các phương pháp khác nhau. Các kết quả của phương pháp ước lượng bình quân bé nhất OLS trong bảng 3 nhằm mục đích kiểm tra hành vi bầy đàn tổng hợp toàn thị trường với tất cả các mẫu thu thập. Hệ số ước lượng của biến có ý nghĩa thống kê thể hiện một mối quan hệ tuyến tính giữa lợi nhuận thị trường và sự phân tán của nó phù hợp với mô hình định giá tài sản. Giá trị âm của hệ số ước lượng biến đạt được cho cả hai sàn chứng khoán HoSE và HNX đã chỉ ra rằng hành vi bầy đàn có tồn tại trên Thị trường chứng khoán Việt Nam. Giá trị R bình phương của phương pháp OLS đạt tại sàn HoSE và tại sàn HNX nói lên rằng khoảng thay đổi trong độ phân tán lợi nhuận thời điểm CSAD có thể được giải thích bằng lợi nhuận thị trường hằng ngày và giá trị bình phương của nó. Khi mô hình ban đầu được ước lượng lại bằng phương pháp Newey-West nhằm khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan, kết quả tại cột thứ 3 của Bảng 3 cho thấy có một số thay đổi về sai số chuẩn cũng như thông số kiểm định t-statistic 104 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ] so với phương pháp trước đó. Mặc dù phương pháp Newey-West giải quyết vấn đề về sai số chuẩn và làm cho kết quả ước lượng hợp lý hơn, nhưng trong trường hợp này kết quả của các tham số được ước lượng không thay đổi ý nghĩa so với kết quả hồi quy trước đó. Ở bước tiếp theo tác giả tiếp tục ước lượng phương trình hồi quy bằng mô hình GARCH 1,1, là mô hình được các nhà khoa học đánh giá khá cao trong xử lý các dữ liệu tài chính và chuỗi thời gian. Kết quả ước lượng một lần nữa cho thấy hệ số hồi quy của biến đạt giá trị âm và có ý nghĩa thống kê ở mức cao mức 1% cho cả hai Sàn giao dịch chứng khoán HoSE và HNX. Điều này có thể khẳng định rằng sự tồn tại của hành vi bầy đàn trên Thị trường chứng khoán Việt Nam. Kết quả này cũng nhất quán với các kết quả nghiên cứu của Chang và ctg. 2000 về hành vi bầy đàn tại các thị trường chứng khoán mới nổi như Đài Loan, Hàn Quốc cũng như các kết quả nghiên cứu tại Việt Nam của Kallinterakis 2007 và của My và Truong 2011. Bảng 3. Phân tích hành vi bầy đàn trên Thị trường chứng khoán Việt Nam Phương pháp OLS có kết hợp Newey-West Absolute market return Square term of market return Conditional variance equation Ghi chú *** , **, * Có ý nghĩa thống kê lần lượt ở các mức sai số 1%, 5% và 10%. Phương trình ước lượng được sử dụng trong bảng trên là . Giá trị trong dấu ngoặc đơn là giá trị thống kê t-statistic đối với phương pháp OLS và z-statistic đối với mô hình GARCH. Nguồn Tính toán của tác giả. Đoàn Anh Tuấn và Hoàng Mai Phương 105 Đánh giá sự bất cân xứng trong hành vi bầy đàn lúc thị trường tăng và giảm điểm Kết quả kiểm định sự bất cân xứng của hành vi bầy đàn tại Thị trường chứng khoán Việt Nam giữa xu hướng thị trường tăng và giảm được thể hiện trong Bảng 4. Mặc dù mô hình GARCH 1,1 có nhiều vượt trội trong việc ước lượng các hệ số thống kê đối với mô hình tài chính chuỗi thời gian, nhưng vì mô hình GARCH đòi hỏi mẫu thống kê phải là liên tục cho nên ta không thể áp dụng mô hình này trong trường hợp số liệu thị trường được chia ra thành phần gồm thị trường tăng và giảm điểm. Thay vào đó, ta dùng mô hình ước lượng OLS có kết hợp phương pháp Newey-West để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan của mô hình. Tại sàn HoSE, có thể thấy rằng hệ số hồi quy của biến mang số âm và có ý nghĩa thống kê ở mức 1% trong cả hai mô hình thị trường tăng và giảm điểm, thể hiện sự tồn tại hành vi bầy đàn của các nhà đầu tư trong cả hai xu hướng. So sánh sự khác biệt của hành vi bầy đàn đối với hai xu hướng tăng và giảm được kiểm định qua phương pháp Quandt-Andrews breakpoint đối với hai hệ số và . Kết quả cho thấy có sự khác biệt ở mức ý nghĩa 1% F-statistic là giữa hành vi bầy đàn lúc thị trường tăng và giảm tại Sàn HoSE. Kết hợp so sánh với kết quả hệ số hồi quy biến của hai cột 1 và 2 cho phép ta khẳng định rằng hành vi bầy đàn lúc thị trường giảm xuất hiện mạnh hơn so với thị trường tăng điểm. Đối với Sàn chứng khoán HNX, hành vi bầy đàn của các nhà đầu tư cũng được xác định tồn tại trong cả hai xu hướng thị trường tăng và giảm điểm. Giống như Sàn HoSE, hệ số hồi quy của tại hai cột 3 và 4 đều có giá trị âm và có ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Kết quả so sánh hai hệ số và còn cho thấy có sự khác biệt lớn trong hành vi bầy đàn giữa hai xu hướng thị trường, điều đó được khẳng định qua hệ số F-statistic bằng và đồng thời có ý nghĩa thống kê cao ở mức 1%. Như vậy, các kết quả kiểm định Quandt-Andrews một lần nữa xác định và ủng hộ các nhận định trước đây, cho rằng hành vi bầy đàn trong xu thế thị trường giảm điểm thường xuất hiện với cường độ mạnh hơn. 106 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ] Bảng 4. Phân tích hành vi bầy đàn trong thị trường tăng điểm và giảm điểm Phương pháp OLS có kết hợp Newey-West HoSE Phương pháp OLS có kết hợp Newey-West HNX Absolute market return Square term of market return Quandt-Andrews breakpoint test H0 F-statistic Ghi chú ***, **, * Có ý nghĩa thống kê lần lượt ở các mức sai số 1%, 5% và 10%. Phương trình ước lượng được sử dụng trong bảng trên là và . Giá trị trong dấu ngoặc đơn là giá trị thống kê t-statistic. Nguồn Tính toán của tác giả. 5. KẾT LUẬN Với những thị trường mà thông tin giao dịch của các nhà đầu tư rất khó để tiếp cận như Việt Nam thì việc sử dụng phương pháp tiếp cận hành vi bầy đàn dựa trên độ phân tán tỷ suất sinh lợi của các chứng khoán so với tỷ suất sinh lợi thị trường của Chang và ctg. 2000 để tìm chứng cứ bầy đàn được xem là tương đối hiệu quả. Theo phương pháp này, tác giả sẽ hồi quy độ phân tán trung bình của tỷ suất sinh lợi các chứng khoán giao dịch trên HoSE từ 01/06/2007 đến 30/11/2015 so với tỷ suất sinh lợi thị trường theo tỷ suất sinh lợi tuyệt đối của thị trường và tỷ suất sinh lợi thị trường bình phương trong cùng thời kỳ. Kết quả thực nghiệm đã chứng tỏ có sự tồn tại hành vi bầy đàn trên cả hai sàn HoSE và HNX của Thị trường chứng khoán Việt Nam. Bên cạnh đó, các kết quả phân tích hồi quy còn chỉ ra rằng trong xu hướng thị trường giảm điểm, hành vi bầy đàn luôn biểu hiện với mức độ mạnh hơn so với thị trường tăng điểm. Đoàn Anh Tuấn và Hoàng Mai Phương 107 Mặc dù hành vi bầy đàn là một dạng tâm lý của con người nên không thể triệt tiêu hoàn toàn, nhưng với những giải pháp phù hợp, hành vi bầy đàn không hợp lý sẽ được hạn chế, từ đó góp phần giảm bớt tình trạng bong bóng và những đổ vỡ mang tính hệ thống của thị trường, giúp thị trường phát triển ổn định và chuyên nghiệp hơn. Để giảm tác động của hành vi bầy đàn đối với Thị trường chứng khoán, các cơ quan quản lý thị trường cần quan tâm hơn nữa đến các giải pháp định hướng như Đổi mới cơ chế minh bạch hóa thông tin và nâng cao hiệu lực của các quy định pháp luật trên thị trường chứng khoán; Xem xét thay đổi chính sách biên độ giao dịch, cải thiện hạ tầng thông tin; Nâng cao năng lực nhà đầu tư và khuyến khích phát triển nhà đầu tư tổ chức. TÀI LIỆU THAM KHẢO Banerjee, A. V. 1992. A simple-model of herd behavior. Quarterly Journal of Economics, 1073, 797-817. Bikhchandani, S., Hirshleifer, D., & Welch, I. 1992. A theory of fads, fashion, custom, and cultural change as informational cascades. Journal of Political Economy, 100, 992-1026. Chang, E. C., Cheng, J. W., & Khorana, A. 2000. An examination of herd behavior in equity markets An international perspective. Journal of Banking and Finance, 24, 1651-1679. Christie, W. G., & Huang, R. D. 1995. Following the pied piper Do individual returns herd around the market? Financial Analysts Journal, 51, 31-37. Clement, M. B., & Tse, S. Y. 2005. Financial analyst characteristics and herding behavior in forecasting. Journal of Finance, 60, 307-341. Devenow, A., & Welch, I. 1996. Rational herding in financial economics. European Economic Review, 40, 603-615. Đoàn, A. T. 2010. Nâng cao tính hiệu quả của Thị trường chứng khoán Việt Nam. Tạp chí Kinh tế & Dự báo, 16, 17-19. Gleason, C. A., & Lee, C. M. C. 2003. Analyst forecast revisions and market price discovery. The Accounting Review, 78, 193-225. Hồ, Q. T. 2007. Tài chính hành vi Nghiên cứu ứng dụng tâm lý học vào tài chính. Tạp chí Kinh tế Phát triển, 3, 27-30. Hong, H., Kubik, J. D., & Solomon, A. 2000. Security analysts' career concerns and herding of earnings forecasts. Rand Journal of Economics, 31, 121-144. Kallinterakis, V. 2007. Herding and the thin trading bias in a start-up market Evidence from Vietnam. Working paper. Retrieved from 108 TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT [CHUYÊN SAN KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ] Kim, O., & Verrecchia, R. E. 1997. Pre-announcement and event-period private information. Journal of Accounting & Economics, 243, 395-419. Lakonishok, J., Shleifer, A., & Vishny, R. W. 1992. The impact of institutional trading on stock prices. Journal of Financial Economics, 32, 23-44. Lê, Đ. C. 2007. Tài chính hành vi và những bất thường của Thị trường chứng khoán Việt Nam. Tạp chí Phát triển Kinh tế, 201, 6-9. My, T. N., & Truong, H. H. 2011. Herding behaviour in an emerging stock market Empirical evidence from Vietnam. Research Journal of Business Management, 52, 51-76. Scharfstein, D. S., & Stein, J. C. 1990. Herd behavior and investment. American Economic Review, 80, 465-479. Trần, T. H. L. 2010. Hành vi bầy đàn trên Thị trường chứng khoán Việt Nam, một số nguyên nhân và giải pháp. Tạp chí Tài chính & Phát triển, 5, 18-25. Trueman, B. 1994. Analyst forecasts and herding behavior. Review of Financial Studies, 7, 97-124. Wermers, R. 1999. Mutual fund herding and the impact on stock prices. Journal of Finance, 54, 581-622. EVIDENCE OF TIME-VARYING HERDING BEHAVIOR FROM THE VIETNAMESE STOCK MARKET Doan Anh Tuana*, Hoang Mai Phuonga aThe Faculty of Economics and Business Administration, Dalat University, Lamdong, Vietnam *Corresponding author tuanda Article history Received April 14th , 2016 Received in revised form August 11th, 2016 Accepted October 10th, 2016 Abstract Using a regression model of the cross-sectional dispersion in stock returns, this study investigates investor herding behavior in Vietnamese stock market spanning the period from June 01, 2007 to November 30, 2015. We find that herding behavior is present in both Ho Chi Minh and Hanoi Stock Exchanges. Importantly, the results show an asymmetry in level of herding behavior in which the herding effect appears to be stronger during falling markets than during rising markets. The study also highlights important policy implications that can help to reduce investors’ complicated nonlinear reactions in the Vietnamese Stock market. Keywords Asymmetry; Herding behavior; Stock return dispersion; Vietnamese Stock market. ResearchGate has not been able to resolve any citations for this study examines the existence of herding behaviour in the Vietnamese stock market and the asymmetric effects of herding that are conditional on the direction of market movements. The evidence supports the presence of herding in the Vietnamese stock exchange with respect to different market periods and to alternative model specifications. Investor herding in this very immature stock market can be explained by a set of micro-structure characteristics typical of the Vietnamese stock market such as a lack of transparency in information and financial management, the high magnitude of market volatility and thin trading. Since herding is thought to increase the volatility of the market, the existence of herding may trigger some policy concerns about a potentially destabilizing effect on the financial market. In addition, the study indicates that upward markets have less return dispersions than downward markets. A possible implication of this finding is that investors in the Vietnamese stock market perform more uniformly in rising markets than in declining markets. William G ChristieRoger D. HuangDo equity returns indicate the presence of herd behavior on the part of investors during periods of market stress? To test this proposition, the cross-sectional standard deviation of returns, or dispersion, is used to capture herd behavior. When individual returns herd around the market consensus, dispersions are predicted to be relatively low. In contrast, rational asset pricing models predict an increase in dispersion because individual returns are repelled away from the market return when stocks differ in their sensitivity to market movements. The results for both daily and monthly returns are inconsistent with the presence of herding during periods of large price movements. For example, during extreme down markets, when herding is expected to be most prevalent, the magnitude of the increase in the dispersion of actual returns is mirrored by the increase in the dispersion of predicted returns that are estimated from a rational asset pricing document several factors that help explain cross-sectional variations in the post-revision price drift associated with analyst forecast revisions. First, the market does not make a sufficient distinction between revisions that provide new information "high-innovation" revisions and revisions that merely move toward the consensus "low-innovation" revisions. Second, the price adjustment process is faster and more complete for "celebrity" analysts Institutional Investor All-Stars than for more obscure yet highly accurate analysts Wall Street Journal Earnings-Estimators. Third, controlling for other factors, the price adjustment process is faster and more complete for firms with greater analyst coverage. Finally, a substantial portion of the delayed price adjustment occurs around subsequent earnings-announcement and forecast-revision dates. Collectively, these findings show that more subtle aspects of an earnings revision signal can hinder the efficacy of market price discovery, particularly in firms with relatively low analyst coverage, and that subsequent earnings-related news events serve as catalysts in the price discovery Bikhchandani David HirshleiferIvo WelchAn informational cascade occurs when it is optimal for an individual, having observed the actions of those ahead of him, to follow the behavior of the preceding individual with regard to his own information. The authors argue that localized conformity of behavior and the fragility of mass behaviors can be explained by informational cascades. Copyright 1992 by University of Chicago San KolmAndrea DevenowIvo WelchThis paper briefly describes recent papers on the economics of rational herding in financial markets. Some models can predict perfect herding, in which rational agents all act alike without any countervailing force. Such herding typically arises either from direct payoff externalities negative externalities in bank runs; positive externalities in the generation of trading liquidity or in information acquisition, principal-agent problems based on managerial desire to protect or signal reputation, or informational learning cascades. The paper also provides a few pointers to related literature and suggests issues to be addressed in future research. Vasileios KallinterakisResearch in behavioural finance has denoted the significant presence of herd behaviour in emerging capital markets. However, although the latter are typified by substantial levels of thin trading, its impact over the measurement of herding has been the subject of very little attention. We address this issue in the context of the Vietnamese market and our results indicate that correcting for thin trading leads to the depression of the herd's significance. Our findings are suggestive of thin trading introducing a bias over herding estimations which we interpret through existing literature evidence related to the illiquid structures of emerging KimRobert E. VerrecchiaPre-announcement information is private information gathered in anticipation of a public disclosure. Event-period information is private information useful in conjunction with the announcement itself. Typically rational models of trade are based exclusively on one type of information. Such models are less descriptive of real market settings and misspecified empirically. Therefore, we introduce a model of rational trade with both features and discuss its examine the investment behavior of market participants within different international markets US, Hong Kong, Japan, South Korea, and Taiwan, specifically with regard to their tendency to exhibit herd behavior. We find no evidence of herding on the part of market participants in the US and Hong Kong and partial evidence of herding in Japan. However, for South Korea and Taiwan, the two emerging markets in our sample, we document significant evidence of herding. The results are robust across various size-based portfolios and over time. Furthermore, macroeconomic information rather than firm-specific information tends to have a more significant impact on investor behavior in markets which exhibit herding. In all five markets, the rate of increase in security return dispersion as a function of the aggregate market return is higher in up market, relative to down market days. This is consistent with the directional asymmetry documented by McQueen et al. 1996 McQueen, G., Pinegar, Thorley, S., 1996. Journal of Finance 51, 889–919. Abhijit BanerjeeThe author analyzes a sequential decision model in which each decisionmaker looks at the decisions made by previous decisionmakers in taking her own decision. This is rational for her because these other decisionmakers may have some information that is important for her. The author then shows that the decision rules that are chosen by optimizing individuals will be characterized by herd behavior; people will be doing what others are doing rather than using their information. The author then shows that the resulting equilibrium is inefficient. Copyright 1992, the President and Fellows of Harvard College and the Massachusetts Institute of G. HongJeffrey D. KubikAmit SolomonSeveral theories of reputation and herd behavior Scharfstein and Stein 1990 and Zweibel 1995 suggest that herding among agents should vary with career concerns. Our goal is to document whether such a link exists in the labor market for security analysts. We find that inexperienced analysts are more likely to be terminated for inaccurate earnings forecasts than are their more experienced counterparts. Controlling for forecast accuracy, they are also more likely to be terminated for bold forecasts that deviate from the consensus. Consistent with these implicit incentives, we find that inexperienced analysts deviate less from consensus forecasts. Additionally, inexperienced analysts are less likely to issue timely forecasts, and they revise their forecasts more frequently. These findings are broadly consistent with existing career concern motivated herding theories.
Tài liệu "Nghiên cứu thị trường chứng khoán Việt Nam" có mã là 212789, file định dạng doc, có 29 trang, dung lượng file 204 kb. Tài liệu thuộc chuyên mục Luận văn đồ án > Kinh tế > Chứng khoán. Tài liệu thuộc loại BạcNội dung Nghiên cứu thị trường chứng khoán Việt NamTrước khi tải bạn có thể xem qua phần preview bên dưới. Hệ thống tự động lấy ngẫu nhiên 20% các trang trong tài liệu Nghiên cứu thị trường chứng khoán Việt Nam để tạo dạng ảnh để hiện thị ra. Ảnh hiển thị dưới dạng slide nên bạn thực hiện chuyển slide để xem hết các lưu ý là do hiển thị ngẫu nhiên nên có thể thấy ngắt quãng một số trang, nhưng trong nội dung file tải về sẽ đầy đủ 29 trang. Chúng tôi khuyễn khích bạn nên xem kỹ phần preview này để chắc chắn đây là tài liệu bạn cần preview Nghiên cứu thị trường chứng khoán Việt NamNếu bạn đang xem trên máy tính thì bạn có thể click vào phần ảnh nhỏ phía bên dưới hoặc cũng có thể click vào mũi bên sang trái, sang phải để chuyển nội dung sử dụng điện thoại thì bạn chỉ việc dùng ngón tay gạt sang trái, sang phải để chuyển nội dung slide. Click vào nút bên dưới để xem qua nội dung tài liệu Nghiên cứu thị trường chứng khoán Việt Nam sử dụng font chữ gì?File sử dụng loại font chữ cơ bản và thông dụng nhất Unicode hoặc là TCVN3. Nếu là font Unicode thì thường máy tính của bạn đã có đủ bộ font này nên bạn sẽ xem được bình thường. Kiểu chữ hay sử dụng của loại font này là Times New Roman. Nếu tài liệu Nghiên cứu thị trường chứng khoán Việt Nam sử dụng font chữ TCVN3, khi bạn mở lên mà thấy lỗi chữ thì chứng tỏ máy bạn thiếu font chữ này. Bạn thực hiện tải font chữ về máy để đọc được nội thống cung cấp cho bạn bộ cài cập nhật gần như tất cả các font chữ cần thiết, bạn thực hiện tải về và cài đặt theo hướng dẫn rất đơn giản. Link tải bộ cài này ngay phía bên phải nếu bạn sử dụng máy tính hoặc phía dưới nội dung này nếu bạn sử dụng điện thoại. Bạn có thể chuyển font chữ từ Unicode sang TCVN3 hoặc ngược lại bằng cách copy toàn bộ nội dung trong file Nghiên cứu thị trường chứng khoán Việt Nam vào bộ nhớ đệm và sử dụng chức năng chuyển mã của phần mềm gõ tiếng việt Unikey. Từ khóa và cách tìm các tài liệu liên quan đến Nghiên cứu thị trường chứng khoán Việt NamTrên Kho Tri Thức Số, với mỗi từ khóa, chủ đề bạn có thể tìm được rất nhiều tài liệu. Bạn có thể tham khảo hướng dẫn sau đây để tìm được tài liệu phù hợp nhất với bạn. Hệ thống đưa ra gợi ý những từ khóa cho kết quả nhiều nhất là Nghiên cứu thị trường, hoặc là Nghiên cứu thị trường tìm được nội dung có tiêu đề chính xác nhất bạn có thể sử dụng Nghiên cứu thị trường chứng khoán, hoặc là Nghiên cứu thị trường chứng khoán nhiên nếu bạn gõ đầy đủ tiêu đề tài liệu Nghiên cứu thị trường chứng khoán Việt Nam thì sẽ cho kết quả chính xác nhất nhưng sẽ không ra được nhiều tài liệu gợi có thể gõ có dấu hoặc không dấu như Nghien cuu thi truong, Nghien cuu thi truong chung, Nghien cuu thi truong chung khoan, Nghien cuu thi truong chung khoan Viet, đều cho ra kết quả chính xác. Việt Nghiên cứu khoán trường thị trường Nghiên cứu thị trường chứng chứng Nghiên cứu thị trường chứng khoán cứu Nghiên cứu Nghiên cứu thị Việt Nam thị Nam Nghiên cứu thị trường chứng khoán Việt Nghiên cứu thị trường Nghiên chứng khoán Các chức năng trên hệ thống được hướng dẫn đầy đủ và chi tiết nhất qua các video. Bạn click vào nút bên dưới để xem. Có thể tài liệu Nghiên cứu thị trường chứng khoán Việt Nam sử dụng nhiều loại font chữ mà máy tính bạn chưa có. Bạn click vào nút bên dưới để tải chương trình cài đặt bộ font chữ đầy đủ nhất cho bạn. Nếu phần nội dung, hình ảnh ,... trong tài liệu Nghiên cứu thị trường chứng khoán Việt Nam có liên quan đến vi phạm bản quyền, bạn vui lòng click bên dưới báo cho chúng tôi biết. Gợi ý liên quan "Nghiên cứu thị trường chứng khoán Việt Nam" Click xem thêm tài liệu gần giống Chuyên mục chứa tài liệu "Nghiên cứu thị trường chứng khoán Việt Nam" Tài liệu vừa xem Nghiên cứu Nghiên cứu thị trường chứng Nghiên cứu thị Nghiên cứu thị trường chứng khoán Việt Nghiên cứu thị trường Nghiên cứu thị trường chứng khoán
QUẢNG CÁO Vài Phút Quảng Cáo Sản Phẩm Tiểu Luận Thị trường chứng khoán ở Việt Nam hiện nay Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư [email protected] Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ Sau “mục lục” và “bản xem trước” Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức Bài liên quan Tiểu Luận Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam sau 4 năm đi vào hoạt động Mục LụcLỜI MỞ ĐẦU1. Sự cần thiết của đề Phạm vi nghiên cứu của đề Kết cấu của đề I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG Khái Phân Vai trò của thị trường Các nguyên tắc cơ bản về hoạt động của thị trường chứng CHỨNG Khái Phân II. THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM HIỆN MÔ HÌNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT Về cơ quan quản lý thị trường chứng Về trung tâm giao dịch chứng Về lĩnh vực đăng ký, thanh toán – bù trừ và lưu giữ chứng Về các tổ chức trung Về sự tham gia của bên nước MỘT SỐ HẠN CHẾ CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM HIỆN III. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM HIỆN ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT LUẬNTải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí Tải ngay bản PDF tại đây Tiểu Luận Thị trường chứng khoán ở Việt Nam hiện nay Quảng Cáo LỜI MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài. Thị trường chứng khoán Việt Nam mới ra đời đầu năm 2000. Thuật ngữ “Thị trường chứng khoán” còn khá mới mẻ đối với công chúng Việt Nam. Trong khi đó ở nhiều nước trên thế giới, thị trường chứng khoán đã phát triển rất sôi động. Đầu tư vào thị trường chứng khoán đã trở nên quan trọng đối với mọi người. Để tham gia vào thị trường chứng khoán, mọi người đều phải có các kiến thức nhất định về thị trường chứng khoán. Thị trường chứng khoán chỉ có thể phát triển được nếu có sự tham gia ngày càng đông của những người có đầy đủ kiến thức về thị trường chứng khoán. Do đó, kiến thức của mọi người dân về thị trường chứng khoán ở Việt Nam cần được nâng cao. Thị trường chứng khoán có sự hấp dẫn vốn có của nó. Nó không chỉ quan trọng đối với nền kinh tế của một nước mà nó còn quan trọng đối với mỗi người bởi vì khả năng đầu tư sinh lợi của nó. Vì vậy, mỗi người tuỳ theo điều kiện, khả năng của mình mà cần phải tiếp cận thật nhanh để tham gia đầu tư có hiệu quả vào thị trường chứng khoán. Chính các hoạt động đó sẽ góp phần đưa thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển. 2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài. Do qui mô của bài viết và thời gian làm bài bị hạn chế, cho nên bài viết này chỉ tập trung đề cập vào những nội dung cơ bản nhất của thị trường chứng khoán. Kiến thức về thị trường chứng khoán rất lớn nhưng những kiến thức trong bài viết này cũng tương đối đủ để hiểu về thị trường chứng khoán. Về phần nói về thực trạng và một số giải pháp cho thị trường chứng khoán Việt Nam, cũng do đó có nhiều hạn chế. Vì vậy, bài viết này cũng chỉ tập trung vào những vấn đề cơ bản nhất, quan trọng nhất đối với thị trường chứng khoán Việt Nam. 3. Kết cấu của đề tài. 1 Đề tài bao gồm các nội dung sau Lời mở đầu Chương I. Cơ sở lý luận về thị trường chứng khoán Chương II. Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay Chương III. Một số giải pháp phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam. Lời kết luận. 2 I. THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN. 1. Khái niệm. Thị trường chứng khoán là thị trường có tổ chức, là nơi mà các chứng khoán được mua bán theo các qui tắc đã được ấn định. 2. Phân loại. Căn cứ theo tính chất pháp lý có thị trường chứng khoán chính thức và thị trường chứng khoán phi chính thức. Thị trường chứng khoán chính thức hay còn gọi là Sở giao dịch chứng khoán là nơi mua bán loại chứng khoán được niêm yết có địa điểm và thời biểu mua bán rõ rệt, giá cả được xác định theo hình thức đấu giá hoặc đấu lệnh. Thị trường chứng khoán phi chính thức hay còn gọi là thị trường OTC là nơi mua bán chứng khoán bên ngoài Sở giao dịch, không có ngày giờ nghỉ hay thủ tục quyết định mà do thoả thuận giữa người mua và người bán. Căn cứ vào quá trình luân chuyển chứng khoán có thị trường phát hành và thị trường giao dịch. Thị trường phát hành hay còn gọi là thị trường sơ cấp là nơi các chứng khoán được phát hành lần đầu bởi các nhà phát hành được bán cho các nhà đầu tư. Căn cứ vào phương thức giao dịch có thị trường giao ngay và thị trường tương lai. Thị trường giao ngay là thị trường mua bán chứng khoán theo giá của ngày giao dịch nhưng việc thanh toán và chuyển giao chứng khoán sẽ diễn ra tiếp theo sau đó vài ngày theo qui định. Thị trường tương lai là thị trường mua bán chứng khoán theo một loạt hợp đồng định sẵn, giá cả được thoả thuận trong ngày giao dịch nhưng việc thanh toán và chuyển giao chứng khoán sẽ diễn ra trong một ngày kỳ hạn nhất định trong tương lai. 3 Căn cứ vào đặc điểm hàng hoá trên thị trường chứng khoán có thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu và thị trường phát sinh. * Thị trường trái phiếu là nơi mua bán các trái phiếu. * Thị trường cổ phiếu là nơi mua bán các cổ phiếu. Thị trường phát sinh là nơi mua bán các công cụ có nguồn gốc chứng khoán. 3. Vai trò của thị trường chứngkhoán. Đối với chính phủ. Thị trường chứng khoán cung cấp các phương tiện để huy động vốn và sử dụng các nguồn vốn một cách có hiệu quả cho nền kinh tế quốc dân. Chính phủ huy động vốn bằng việc bán trái phiếu và dùng số tiền đó để đầu tư vào các dự án cần thiết của mình. Thị trường chứng khoán còn góp phần thực hiện quá trình cổ phần hoá. Chính thị trường chứng khoán có thực mới có thể tuyên truyền sự cần thiết của thị trường chứng khoán một cách tốt nhất. Từ đó khuyến khích việc cổ phần hoá nhanh lên các doanh nghiệp quốc doanh. Thị trường chứng khoán là nơi để thực hiện các chính sách tiền tệ. Lãi suất thị trường có thể tăng lên hoặc giảm xuống do việc chính phủ mua hoặc bán trái phiếu. Ngoài ra thị trường chứng khoán là nơi thu hút các nguồn vốn đầu tư gián tiếp từ nước ngoài qua việc nước ngoài mua chứng khoán. Đối với các doanh nghiệp. Thị trường chứng khoán giúp các công ty thoát khỏi các khoản vay kh có chi phí tiền vay cao ở các ngân hàng. Các doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu. Hoặc chính thị ttường chứng khoán tạo ra tính thanh khoản để cho công ty có thể bán chứng khoán bất kỳ lúc nào để có tiền. Như vậy, thị trường chứng khoán giúp các doanh nghiệp đa dạng hoá các hình thức huy động vốn và đầu tư. Thị trường chứng khoán là nơi đánh giá giá trị của doanh nghiệp và của cả nền kinh tế một cách tổng hợp và chính xác kể cả giá trị hữu hình và vô hình thông qua chỉ số giá chứng khoán trên thị trường. Từ đó tạo ra một môi 4 trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm. Thị trường chứng khoán còn là nơi giúp các tập đoàn ra mắt công chúng. Thị trường chứng khoán chính là nơi quảng cáo ít chi phí về bản thân doanh nghiệp. Đối với nhà đầu tư. Thị trường chứng khoán là nơi mà các nhà đầu tư có thể dễ dàng tìm kiếm các cơ hội đầu tư để đa dạng hoá đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư. Nhược điểm của thị trường chứng khoán. Yếu tố đầu cơ. Đầu cơ là yếu tố có tính toán của người chấp nhận rủi ro. Họ có thể mua cổ phiếu ngay với hy vọng giá cổ phiếu sẽ tăng trong tương lai và thu hồi được lợi nhuận trong từng thương vụ. Yếu tố này gây ảnh hưởng lan truyền làm cho giá cổ phiếu có thể tăng giả tạo. Tuy nhiên thị trường không cấm yếu tố này. Mua bán nội gián. Mua bán nội gián là việc một cá nhân nào đó lợi dụng vị trí công việc của mình, nắm được những thông tin nội bộ của đơn vị phát hành để mua hoặc bán cổ phiếu của đơn vị đó một cách không bình thường nhằm thu lợi cho mình và làm ảnh hưởng tới giá của cổ phiếu trên thị trường. Đây là hành phi đạo đức thương mại và bị cấm ở các nước. Phao tin đồn không chính xác hay thông tin lệch lạc. Đây là việc đưa ra các thông tin sai sự thật về tình hình tài chính, tình hình nội bộ của công ty hay về môi trường kinh doanh của công ty nhằm tăng hay giảm giá cổ phiếu để thu lợi nhuận cho cá nhân. Mua bán cổ phiếu ngầm. Mua bán cổ phiếu ngầm là việc mua bán không qua thị trường chứng khoán. Điều này có thể gây áp lực cho các nhà đầu tư khác đưa tới việc khống chế hay thay thế lãnh đạo. Việc phao tin đồn không chính xác và mua bán cổ phiếu ngầm đều bị cấm ở các nước. 5. Các nguyên tắc cơ bản về hoạt động của thị trường chứng khoán. 5 Nguyên tắc trung gian. Trên thị trường chứng khoán, các giao dịch thường được thực hiện thông qua tổ chức trung gian và môi giới là các công ty chứng khoán. Trên thị trường sơ cấp, các nhà đầu tư thường không mua trực tiếp của nhà phát hành mà mua từ các nhà bảo lãnh phát hành. Trên thị trường thứ cấp, thông qua nghiệp vụ môi giới kinh doanh các công ty chứng khoán mua chứng khoán giúp các nhà đầu tư, hoặc mua chứng khoán của nhà đầu tư này để mua và bán cho các nhà đầu tư khác. Nguyên tắc này nhằm đảm bảo các loại chứng khoán được giao dịch là chứng khoán thực và giúp thị trường hoạt động lành mạnh, bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư. Nguyên tắc định giá. Việc định giá chứng khoán trên thị trường phụ thuộc hoàn toàn vào các nhà trung gian môi giới. Mỗi nhà trung gian môi giới định giá mỗi loại chứng khoán tại một thời điểm tuỳ theo sự xét đoán và tùy vào số cung cầu chứng khoán có trên thị trường. Việc định giá chứng khoán được thực hiện thông qua cuộc thương lượng giữa những người trung gian môi giới cần mua và cần bán. Giá cả được xác định khi hai bên đã thống nhất. Tất cả các thành viên có liên quan trên thị trường không ai có thể can thiệp vào sự tác động qua lại của số cung cầu chứng khoán trên thị trường và cũng không ai có quyền định giá chứng khoán một cách độc đoán. Vì thế thị trường chứng khoán được coi là thị trường tự do nhất trong các thị trường. Nguyên tắc công khai hoá. Tất cả các hoạt động trên thị trường chứng khoán đều được công khai hoá về các loại chứng khoán được đưa ra mua bán trên thị trường, cũng như tình hình tài chính về kết quả kinh doanh của công ty phát hành và số lượng chứng khoán và giá cả từng loại đều được công khai trên thị trường và trong các báo cáo. Khi kết thúc một cuộc giao dịch số lượng chứng khoán được mua bán, giá cả từng loại đều được lập tức thông bán ngay. Nguyên tắc này nhằm đảm bảo quyền lợi cho người mua và người bán chứng khoán không bị hớ trong mua bán chứng khoán và người mua chứng khoán dễ dàng chọn loại chứng khoán theo sở thích của mình. II. CHỨNG KHOÁN. 6 1. Khái niệm. Chứng khoán là những giấy tờ có giá xác định số vốn đầu tư và nó xác nhận quyền đòi nợ hay quyền sở hữu về tài sản, bao gồm những điều kiện về thu nhập trong một khoảng thời gian nào đó và có khả năng chuyển nhượng. 2. Phân loại. Căn cứ theo tiêu thức pháp lý có chứng khoán vô danh và chứng khoán kí danh. Chứng khoán vô danh là loại chứng khoán không ghi rõ họ tên chủ sở hữu. Việc chuyển nhượng loại này rất dễ dàng, không cần thủ tục đăng ký rườm rà. Chứng khoán ký danh là loại chứng khoán ghi rõ họ tên chủ sở hữu. Việc chuyển nhượng loại này được thực hiện bằng thủ tục đăng ký tại cơ quan phát hành. Căn cứ theo tính chất thu nhập có chứng khoán có thu nhập ổn định, chứng khoán có thu nhập không ổn định và chứng khoán hỗn hợp. Chứng khoán có thu nhập ổn định là các trái phiếu thu nhập của nó không phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty. Chứng khoán có thu nhập không ổn định là các cổ phiếu thường, thu nhập của nó phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty và chính sách trả cổ tức. Chứng khoán hỗn hợp là cổ phiếu ưu đãi, có một phần thu nhập là không phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty. Căn cứ theo chủ thể phát hành có chứng khoán Chính phủ và chứng khoán công ty. Chứng khoán Chính phủ là các chứng khoán do các cơ quan của Chính phủ trung ương hay chính quyền địa phương phát hành như trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình, trái phiếu Chính phủ, công trái Nhà nước. Chứng khoán công ty là chứng khoán do các doanh nghiệp, công ty cổ phần phát hành như trái phiếu, cổ phiếu và các công cụ có nguồn gốc chứng khoán. Trái phiếu. Đặc điểm. 7 Trái phiếu là giấy tờ có giá xác định số vốn đầu tư và xác nhận quyền đòi nợ bao gồm những điều kiện và thu nhập trong một khoảng thời gian nào đó và có khả năng chuyển nhượng. Từ khái niệm trên ta thấy trái phiếu có đặc điểm là có thu nhập ổn định, có khả năng chuyển nhượng, có thời gian đáo hạn. Đồng thời trái chủ không có quyền tham gia bầu cử, ứng cử vào Hội đồng quản trị. Nhưng trái phiếu đem lại cho trái chủ quyền được ưu tiên trong phân chia lợi nhuận cũng như thanh lý tài sản khi công ty phá sản. vài loại trái phiếu. Trái phiếu có lãi suất cố định là trái phiếu cho lãi suất cố định ngay tại thời điểm phát hành. Trái phiếu có lãi suất thả nổi là trái phiếu cho lãi suất được điều chỉnh theo từng thời kỳ. Trái phiếu không có lãi là trái phiếu không cho lãi suất thường kỳ, nó được mua với giá thấp so với mệnh giá. Toàn bộ tiền lời và giá trị tăng thêm sẽ bằng đúng mệnh giá vào ngày đáo hạn. Trái phiếu thu nhập là trái phiếu được phát hành bởi các công ty đang trong thời kỳ tổ chức lại. Công ty phát hành hứa sẽ trả số gốc khi trái phiếu hết hạn nhưng chỉ hứa trả lãi nếu công ty có đủ thu nhập. Trái phiếu có thể thu hồi là trái phiếu cho phép công ty có thể mua lại trái phiếu vào một thời gian nào đó. Tuy nhiên trái phiếu không thể thu hồi một vài năm sau khi chúng được phát hành. Trái phiếu có thể chuyển đổi là trái phiếu cho phép người giữ nó được chuyển đổi sang một số lượng cổ phiếu nhất định với giá xác định. Trái phiếu phiếu kèm giấy bảo đảm là trái phiếu cho phép, người giữ nó có quyền mua thêm một số lượng cổ phiếu nhất định của đơn vị phát hành ở một giá xác định một giấy bảo đảm ở góc trái phiếu bằng một cổ phiếu. Trái phiếu Euro là trái phiếu phát hành bằng đồng tiền của nước phát hành tại một nước khác. Trái phiếu Dollar là trái phiếu phát hành bằng đồng Đôla Mỹ ở các nước ngoài nước Mỹ. 8 Trái phiếu Yankee là trái phiếu của các công ty và Chính phủ nước ngoài phát hành bằng Đôla Mỹ và được giao dịch ở thị trường Mỹ. Cổ phiếu. Khái niệm Cổ phiếu là những giấy tờ có giá xác định số vốn đầu tư và nó xác nhận quyền sở hữu về tài sản và những điều kiện về thu nhập trong một khoảng thời gian nào đó và có khả năng chuyển nhượng. Có hai loại cổ phiếu là cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi. Cổ phiếu thường. Cổ phiếu thường là cổ phiếu không có thời gian đáo hạn, không có thu nhập ổn định mà thu nhập của nó phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh hay chính sách chi trả cổ tức của công ty. Cổ phiếu thường có khả năng chuyển nhượng dễ dàng. Người nắm giữ cổ phiếu thường có quyền tham gia bầu cử vào Hội đồng quản trị nhưng không được ưu tiên trong phân chia lợi nhuận cũng như thanh lý tài sản khi công ty phá sản. Ngoài ra cổ phiếu thường còn đem lại quyền đặt mua cổ phiếu mới cho các cổ đông. Cổ phiếu ưu đãi. Cổ phiếu ưu đãi là loại cổ phiếu có sự ưu tiên hơn cổ phiếu thường trong việc phân chia lợi nhuận cũng như chi trả cổ tức và thanh lý tài sản khi công ty phá sản. Cổ phiếu ưu đãi cũng như cổ phiếu thường là nó không có thời gian đáo hạn. Nó tồn tại ở sự tồn tại của công ty. Nó cũng có khả năng chuyển nhượng nhưng phải thêm một số điều kiện nhất định. Cổ tức của cổ phiếu ưu đãi lẫn cổ phiếu thường đều không phải là nợ của công ty do đó không có thu nhập ổn định trong điều kiện bình thường và nó có thể được mua lại bởi nhà phát hành. Cổ phiếu ưu đãi còn có một số điều khoản kèm theo. Thứ nhất, cổ phiếu ưu đãi có tính chất tham dự trong phân chia lợi nhuận khi công ty làm ăn có lãi, vượt một mức nào đó. Thứ hai, cổ phiếu ưu đãi có tính chất bỏ phiếu. Trong điều kiện bình thường, cổ phiếu ưu đãi không có tính chất bỏ phiếu. 9 Nhưng khi công ty làm ăn thua lỗ, cổ phiếu ưu đãi sẽ có tính chất bỏ phiếu. Thứ ba, cổ phiếu ưu đãi có tính chất tích luỹ hay không tích luỹ tức là do côgn ty làm ăn không hiệu quả, công ty sẽ không trả cổ tức. Nhưng khi công ty làm ăn có lãi công ty có thể trả cổ tức cho những năm bị thua lỗ trước đó hoặc không trả cổ tức của những năm chưa trả được. Các công cụ phát sinh. Khái niệm. Công cụ phát sinh là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công cụ đã có như cổ phiếu nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận. Một số công cụ phát sinh là quyền lựa chọn và hợp đồng tương lai. Quyền lựa chọn là một công cụ cho phép người nắm giữ nó được mua nếu là quyền chọn mua hoặc bán nếu là quyền chọn bán một khối lượng nhất định hàng hoá với một mức giá xác định và trong một thời hạn nhất định. Các hàng hoá này có thể là cổ phiếu, trái phiếu hay hợp đồng tương lai. Hợp đồng tương lại là một thoả thuận trong đó một người mua và một người bán chấp thuận thực hiện một giao dịch tại một thời điểm xác định trong tương lai với một mức giá được ấn định vào ngày hôm nay. Hợp đồng tương lai được niêm yết trên sở giao dịch, nó xoá bỏ rủi ro tín dụng vì nó được công ty thanh toán bù trừ phục vụ như là một trung gian trong tất cả các giao dịch. Người bán và người mua đều bán mua qua công ty thanh toán bù trừ. Hợp đồng tương lai đều được tiêu chuẩn hoấ về việc giao nhận một khối lượng cụ thể của một hàng hoá cụ thể đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng tối thiểu, theo một thời hạn được ấn định trước. Hợp đồng tương lai còn được chuyển giao theo giá thị trường tức là bất kỳ món lợi nào cũng được giao nhận hàng ngày. Cụ thể là nếu giá của hàng hoá cơ sở biến động khác với giá đã thoả thuận giá thực hiện hợp đồng thì bên bị thiệt hại do sự thay đổi giá này phải trả tiền cho bên được lợi từ sự thay đổi giá đó. Việc thanh toán như thế được tiến hành hàng ngày. 10 CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM HIỆN NAY. I. MÔ HÌNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM. 1. Về cơ quan quản lý thị trường chứng khoán. Đối với Việt Nam, Uỷ ban chứng khoán Nhà nước đã được thành lập để quản lý và giám sát thúc đẩy cho thị trường phát triển theo định hướng XHCN và bảo vệ quyền lợi cho các nhà đâu tư. Đây là bước đi đúng phù hợp với điều kiện của Việt Nam và xu hướng quốc tế. 2. Về trung tâm giao dịch chứng khoán. Trung tâm giao dịch chứng khoán tại thành phố Hồ Chí Minh đã được thành lập. Còn trung tâm giao dịch chứng khoán tại Hà Nội đang được xem xét thành lập. Hệ thống giao dịch của trung tâm tự động hoá với trạm làm việc có công suất nhỏ. Về sở giao dịch chứng khoán. Hình thức sở hữu. Đối với Việt Nam, Sở giao dịch chứng khoán sẽ do Nhà nước sử hữu, để đảm bảo an toàn, công bằng theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc thành lập, đình chỉ hoạt động hoặc giải thể Sở giao dịch chứng khoán do Thủ tướng chính phủ quyết định theo đề nghị của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước. Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam là một tổ chức hoạt động không vì lợi nhuận đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước. Số lượng Sở giao dịch chứng khoán. Để tránh những bất lợi của việc tồn tại nhiều Sở giao dịch chứng khoán mà các nước đang gặp phải, chúng ta cũng chỉ nên xây dựng một Sở giao dichj chứng khoán thống nhất với các sàn giao dịch tại một, hai thành phố được nối mạng với nhau. Địa điểm thiết lập Sở giao dịch chứng khoán. Sở giao dịch chứng khoán được đặt ở thành phố Hồ Chí Minh vì hiện nay thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm thương mại tài chính lớn nhất trong 11 nước và để cho Sở giao dịch phát triển. Với hệ thống giao dịch điện tử, các công ty môi giới tại Hà Nội vẫn có thể dễ dàng sẽ được tiếp cận thị trường. Giao dịch ngoài Sở. Đối với Việt Nam, để công khai hoá tất cả các hoạt động giao dịch, Nhà nước đang xem xét thành lập Sở giao dịch chứng khoán tập trung cho tất cả các chứng khoán kể cả công ty và và nhỏ có đủ điều kiện niêm yết, hay không đủ điều kiện niêm yết được mua bán tại Sở giao dịch chứng khoán. Tuy nhiên, việc giao dịch những chứng khoán của công ty lớn đủ điều kiện niêm yết tách biệt với khu vực giao dịch những chứng khoán của những công ty vừa và nhỏ không đủ điều kiện niêm yết. Hệ thống giao dịch. Việt Nam áp dụng hệ thống ghép lệnh. Hệ thống này đơn giản cho phép có được giá cả, cạnh tranh tốt nhất nên đang được nhiều nước mới nổi áp dụng. ở Việt Nam trong thời gian đầu khi thị trường chưa phát triển, khối lượng giao dịch còn nhỏ, nên áp dụng phương thức ghép lệnh từng đợt để giảm bớt sự biến động của giá cả. Mức độ tự động hoá. Trong điều kiện chi phí cho hệ thống tự động hoá ngày càng có xu hướng giảm thì Việt Nam cần thiết và sử dụng chương trình tự động hoá ngay từ đầu. Nếu bắt đầu bằng giao dịch thủ công, sau đó lại thay thế bằng hệ thống tự động thì sẽ tốn kém. Để tiết kiệm chi phí cho thời gian đầu ở Việt Nam chỉ lắp đặt thiết bị với công suất xử lý thấp. Các thiết bị lắp đặt ở trạng thái mở để khi khối lượng giao dịch tăng lên có thể lắp đặt thêm nhằm mổ rộng công suất xử lý của hệ thống. 4. Về lĩnh vực đăng ký, thanh toán – bù trừ và lưu giữ chứng khoán. Hệ thống đăng ký, thanh toán – bù trừ và lưu giữ chứng khoán. Các chức năng đăng ký, thanh toán, bù trù và lưu giữ được kết hợp vào một trung tâm duy nhất trong cả nước. Các công ty chứng khoán và các ngân hàng được cho phép trở thành công ty lưu ký. 5. Về các tổ chức trung gian. Việt Nam, các ngân hàng chỉ được phép kinh doanh chứng khoán dưới hình thức thành lập các công ty độc lập, hoạt động tách rời với kinh doanh 12 tiền tệ. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cho phép cả các công ty chứng khoán độc lập hình thành từ các công ty tài chính, các tổng công ty lớn. Việt Nam các công ty chứng khoán được phép thực hiện tất cả các hình thức như bảo lãnh phát hành chứng khoán, môi giới chứng khoán, tư doanh chứng khoán, tư vấn chứng khoán và quản lý quỹ đầu tư. Riêng hình thức quản lý quỹ đầu tư, yêu cầu phải hoạt động tách rời dưới hình thức một công ty độc lập nhằm bảo vệ lợi ích của những cổ đông của quỹ. Ngoài ra hiện nay, Nhà nước còn cho phép hai loại doanh nghiệp tham gia kinh doanh chứng khoán là công ty cổ phần và doanh nghiệp liên doanh. Trên thế giới có hai loại quỹ đầu tư chứng khoán chủ yếu là quỹ đóng, vaf quỹ mở. Trong thời gian đầu Việt Nam dự kiến áp dụng hình thức quỹ đầu tư chứng khoán dạng quỹ đóng quỹ không mua lại cổ phần của cổ đông muốn rút vốn để đảm bảo an toàn trong điều kiện khả năng thanh toán của thị trường còn thấp. 6. Về sự tham gia của bên nước ngoài. Việt Nam cho phép bên nước ngoài được sở hữu một tỷ lệ phần trăm nhất định và cho phép công ty chứng khoán nước ngoài được liên doanh với công ty chứng khoán trong nước theo một tỷ lệ liên doanh nhất định. II. MỘT SỐ HẠN CHẾ CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM HIỆN NAY. Thị trường chứng khoán Việt Nam mới ra đời cho nên không tránh khỏi có những hạn chế. Thị trường chứng khoán có tầm quan trọng vốn có của nó cho nền thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ được quan tâm một cách đáng kể để phát triển một cách hoàn thiện. Thị trường chứng khoán Việt Nam đang có ít chứng khoán được giao dịch cả về số lượng và giá trị. Hiện có năm cổ phiếu của SAM, REE, TMS, HAP và LAFOOCO và trái phiếu của Ngân hàng đầu tư phát triển cùng với trái phiếu chính phủ đang được giao dịch. Việc có ít loại chứng khoán được giao dịch là do có ít doanh nghiệp có đủ điều kiện để niêm yết trên thị trường chứng khoán làm cho trên thị trường luôn xuất hiện tình trạng cầu lớn hơn cung, giá cả vượt quá giá trị thực của chứng khoán. Hơn nữa, các lý do còn là các doanh nghiệp không có nhu cầu vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh hay nếu phát hành cổ phiếu mới thì tỉ lệ nắm giữ cổ phiếu sẽ giảm và giảm vị trí 13 trong Hội đồng quản trị hay do việc định giá gặp phải khó khăn vì do tổ định giá của Bộ tài chính tiến hành hay do Ban lãnh đạo thích vay ngân hàng hơn. Đó còn là do quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước chậm hay chưa cổ phần hoá các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Hiện nay các công ty chứng khoán đang bị thua lỗ vì có quá ít chứng khoán giao dịch cả về số lượng và giá trị. Đó là vì khuôn khổ pháp lý chưa được nới rộng để các nhà đầu tư nước ngoài có thể tham gia mua bán chứng khoán. Thông tư của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước từ 29/11/2000 qui định phí dịch vụ môi giới mua, bán chứng khoán nhỏ hơn hoặc bằng 0,5% giá trị giáo dịch cổ phiếu làm cho việc hoạt động của các công ty chứng khoán càng khó khăn hơn do phí giảm đi trong khi có ít chứng khoán được giao dịch trên thị trường. Lãi suất của trái phiếu chính phủ chưa hấp dẫn so với lãi suất tiền gửi tiết kiệm là nguyên nhân làm cho trái phiếu ít được giao dịch lãi suất của trái phiếu chính phủ là 6,5%/năm của đợt phát hành thứ nhất và 6,6%/năm của đợt phát hành thứ hai. Thị trường chứng khoán phi chính thức là nơi giao dịch các chứng khoán của các công ty cổ phần vưà và nhỏ không đủ điều kiện niêm yết trên thị trường chứng thức. Thị trường chứng khoán phi chính thức sẽ tạo điều kiện để phát triển thị trường chứng khoán chính thức. Thế nhưng ở Việt Nam vẫn chưa có thị trường chứng khoán phi chính thức để các công ty vừa và nhỏ tham gia. Việt Nam do thị trường chứng khoán nước ta ra đời cho nên còn thiếu nhiều đội ngũ có kiến thức sâu về thị trường chứng khoán để công tác tốt trong việc quản lý Nhà nước, trong công tác kinh doanh chứng khoán, tư vấn kinh doanh chứng khoán và sẵn sàng chấp nhận rủi ro tham gia thị trường. Để thị trường chứng khoán hoạt động lành mạnh lâu dài thì cần thiết phải có các qui định pháp luật đúng đắn về lĩnh vực chứng khoán. Nhưng ở Việt Nam, hệ thống pháp luật về thị trườngchứng khoán chưa được hoàn thiện vì chưa có sự góp ý của các công ty phát hành và các công ty chứng khoán để ban hành ra hành lang pháp lý trên lĩnh vực chứng khoán. Với các hạn chế chủ yếu trên, trong những năm tới, thị trường chứng khoán Việt Nam cần được thay đổi để trở thành một thị trường chứng khoán lớn và sôi động. 14 CHƯƠNG III. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM HIỆN NAY. I. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM. Nhà nước giữ vai trò quyết định trong việc xây dựng, quản lý, khuyến khích và tạo điều kiện cho thị trường phát triển theo đúng đường lối và định hướng của Đảng và chính phủ. Uỷ ban chứng khoán Nhà nước là cơ quan nhà nước quản lý thống nhất, nhằm tạo điều kiện cho thị trường hoạt động thông suốt, hiệu quả và an toàn. Việt Nam sẽ xây dựng một thị trường chứng khoán có tổ chức, hoạt động công bằng, hiệu quả an toàn, bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của đất nước, từng bước hội nhập với thị trường chứng khoán của các nước trong khu vực và thế giới. Việt Nam sẽ xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán từ qui mô nhỏ đến qui mô lớn, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện phù hợp với điều kiện và tình hình cụ thể của đất nước. II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM. Thị trường chứng khoán là phong vũ biểu của nền kinh tế, các mối quan hệ về huy động và luân chuyển vốn trên thị trường chứng khoán được hình thành và biến đổi trên cơ sở phản ánh của các điều kiện kinh tế vĩ mô. Chính vì vậy, các chính sách nhằm đảm bảo tính vững chắc và ổn định của nền kinh tế có tầm quan trọng rất lớn đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán. Sự ổn định kinh tế vĩ mô và sự nhất quán trong chiến lược phát triển, vai trò của hệ thống quản lý có tính chất quyết định đối với sự thành bại của một thị trường. Vì vậy, chúng ta cần sớm xem xét các văn bản pháp quy hiện hành để điều chỉnh một cách đồng bộ, phù hợp các mâu thuẫn trong các văn bản pháp qui đó. Điều thực sự cần thiết khi soạn ra các văn bản pháp qui là các cơ quan quản lý nên tham khảo ý kiến của các công ty phát hành, các công ty chứng khoán hay của các chuyên gia trên lĩnh vực chứng khoán. Sự phát triển thị trường chứng khoán và chương trình cổ phần hoá có mối quan hệ mật thiết với nhau. Do đó, cần đẩy nhanh tốc độ cổ phần hoá để 15 lựa chọn một số doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu và trái phiếu. Để đẩy nhanh tốc độ cổ phần hoá thì chúng ta cần phải có các văn bản pháp lý đủ mạnh để làm căn cứ buộc các doanh nghiệp phải cổ phần hoá. Ngoài ra, Nhà nước còn phải tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi, “bình đẳng”, có hcính sách ưu đãi thuế cho các công ty cổ phần để các công ty này có thể phát triển được. Hơn nữa, Nhà nước phỉa có thêm các giải pháp như giúp đỡ người lao động vay vốn để mua cổ phần, xoá bỏ qui định hạn chế mua cổ phần, tăng cường kiểm tra tiến độ cổ phần hoá và tăng cường tuyên truyền ưu điểm của cổ phần hoá. Chúng ta không chỉ cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước mà còn nên xúc tiến việc cổ phần hoá các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán đều là các thị trường được sử dụng để thực hiện việc huy động và luân chuyển các nguồn vốn, hai thị trường này mang tính chất cạnh tranh và bổ sung lẫn nhau. Chính vì vậy, muốn xây dựng thị trường chứng khoán lớn mạnh thì phải có các chính sách tác động đến thị trường tiền tệ và tận dụng các cơ sở sẵn có của thị trường tiền tệ để phát triển thị trường chứng khoán theo một số hướng điều chỉnh linh hoạt lãi suất huy động và cho vay trên thị trường tiền tệ để tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động vốn thông qua những công cụ chứng khoán, khuyến khích các tổ chức hoạt động trên thị trường tiền tệ, tham gia vào thị trường chứng khoán trên cơ sở có sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước và việc phân định rõ chức năng và phạm vi hoạt động. Bất kỳ một thị trường nào muốn hoạt động được thì cần phải có cung và cầu đối với hàng hoá trên thị trường. Do đó trong thời kỳ đầu mới ra đời thị trường chứng khoán, chúng ta cần tập trung đẩy mạnh các nguồn cung về chứng khoán theo hướng khuyến khích các doanh nghiệp có đủ điều kiện phát hành chứng khoán ra công chúng cả về phát hành lần đầu và phát hành thêm cổ phiếu mới. Chúng ta cần thực hiện các biện pháp hỗ trợ, ưu đãi, cho các doanh nghiệp huy động vốn thông qua phát hành chứng khoán. Để đẩy mạnh cầu chứng khoán, chúng ta cần khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia mua chứng khoán trên cơ sở các biện pháp phát triển kinh tế nhanh, bền vững, kiểm soát lạm phát, nâng cao đời sống nhân dân nhằm tăng trưởng mức tiết kiệm trong dân cư. Thực hiện chính sách dần dần mở cửa thị trường một cách thích hợp để khuyến khích đầu tư nước ngoài, việc phát triển hệ thống trung 16 gian tài chính hoạt động trên thị trường chứng khoán, hệ thống giám sát có hiệu quả, tăng cường phổ biến, phổ cập kiến thức về thị trường chứng khoán. Thêm vào đó, cần phải xúc tiến nhanh việc thành lập thị trường phi chính thức và thị trường chứng khoán tại Hà nội hay các trái phiếu cần có lãi suất hẫp dẫn hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm. Các cơ quan chức năng Nhà nước phải quản lý chặt chẽ các tiêu chuẩn phát hành, đảm bảo chứng khoán phát hành phải là chứng khoán có chất lượng, ban hành chế độ kế toán, kiểm toán thống nhất để nâng cao chất lượng của các thông tin về thị trường chứng khoán trên thị trường, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư có thể hiểu được các thông tin đó và ra quyết định đầu tư chính xác. Thực hiện chế độ công bố thông tin bắt buộc, xử lý nghiêm minh các vi phạm trong phát hành và giao dịch chứng khoán. Nhà nước cần có chính sách tạo nguồn nhân lực cho thị trường chứng khoán qua việc mở cáclớp đào tạo tại các trường, trên truyền hình, đài, báo về các kiến thức từ cơ bản đến chuyên sâu về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Trong hoạt động đó, chúng ta có thể lựa chọn những người có tài thực sự để tạo điều kiện phát triển thị trường chứng khoán. 17 KẾT LUẬN Thị trường chứng khoán Việt Nam đang chập chững bước đi những bước đầu tiên. Với vai trò, tầm quan trọng vốn có của nó đối với nền kinh tế đất nước, thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam tiến đến các tầm cao mới. Cho dù hiện nay thị trường chứng khoán Việt Nam còn nhiều khuyết tật, chúng ta vẫn hy vọng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước sẽ giúp thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển hiệu quả. Thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển sẽ góp phần đảm bảo nền kinh tế Việt Nam phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. 18 Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
các đề tài nghiên cứu về chứng khoán